Những tranh chấp có thể phát sinh từ kỳ họp đại hội đồng cổ đông

 

Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) trong công ty cổ phần (CTCP) gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan có quyền quyết định cao nhất của công ty. ĐHĐCĐ thông qua các quyết định đối với các vấn đề thuộc thẩm quyền của mình quy định tại Điều 135 LDN 2014và Điều lệ CTCP.Thành viên Đại hội đồng cổ đông có thể thực hiện các quyền của thông qua việc tham dự và biểu quyết tại cuộc họp Đại hội cổ đông của công ty.Theo quy định của LDN 2014 thì CTCP phải tiến hành họp ĐHĐCĐ thường niên mỗi năm một lần và có thể tiến hành cuộc họp ĐHĐCĐ bất thường trong một số các trường hợp nhất định quy định tại khoản 3 Điều 136 LDN 2014. Tuy nhiên để tổ chức được một kì họp ĐHĐCĐ hợp lệ đúng quy định của pháp luật và điều lệ của công ty lại là một việc làm vô cùng khó cho các doanh nghiệp, vì lý do này mà cuộc họp ĐHĐCĐ vi phạm quy định của pháp luật xảy ra vô cùng nhiều, kéo theo đó là các tranh chấp phát sinh trước, trong và sau khi kì họp ĐHĐCĐ diễn ra liên quan chủ yếu đến các vấn đề yêu cầu hủy nghị quyết đại hội đồng cổ đông do có những sai sót trong trình tự thủ tục tổ chức đại hội, từ những vấn đề về thẩm quyền triệu tập họp, chốt danh sách, gửi thông báo mời họp, tài liệu gửi cho cổ đông….đến việc thông qua chương trình, thay đổi chương trình, cách thức biểu quyết, bầu cử dồn phiếu, thông qua biên bản, nghị quyết đại hội đồng cổ đông… Điều này gây ra những khó khăn vô cùng lớn cho các công ty cổ phần khi giải quyết những tranh chấp đó. Theo đó các tranh chấp thường gặp có thể phát sinh từ kì họp ĐHĐCĐ bao gồm:

Thứ nhất: tranh chấp phát sinh liên quan đến vấn đề yêu cầu Chủ tịch Hội đồng quản trị và các thành viên Hội đồng quản trị hoặc Ban kiểm soát phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và bồi thường thiệt hại phát sinh cho công tykhi không tiến hành cuộc ĐHĐCĐ theo quy định của pháp luật gây thiệt hai cho công ty.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 136 LDN 2014 quy định: “Hội đồng quản trị phải triệu tập họp bất thường Đại hội đồng cổ đông trong các trường hợp sau đây: “ a) Hội đồng quản trị xét thấy cần thiết vì lợi ích của công ty; b) Số thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát còn lại ít hơn số thành viên theo quy định của pháp luật; c) Theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 114 của Luật này; d) Theo yêu cầu của Ban kiểm soát;đ) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty.” Theo đó nếu công ty xảy một trong các trường hợp quy định trên mà Hội đồng quản trị không tiến hành triệu tập họp ĐHĐCĐ thì theo quy định tại khoản 4 Điều 136 LDN 2014trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày số thành viên Hội đồng quản trị còn lại theo quy định tại điểm b hoặc nhận được yêu cầu quy định tại điểm c và điểm d khoản 3 Điều này thì Chủ tịch Hội đồng quản trị và các thành viên Hội đồng quản trị phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và phải bồi thường thiệt hại phát sinh cho công ty.

Nếu Trường hợp Hội đồng quản trị không triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông theo quy định tại khoản 4 Điều này thì trong thời hạn 30 ngày tiếp theo, Ban kiểm soát thay thế Hội đồng quản trị triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông theo quy định của Luật này. Trường hợp Ban kiểm soát không triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông theo quy định thì Ban kiểm soát phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và bồi thường thiệt hại phát sinh cho công ty.( khoản 5 Điều 136 LDN)

Nhận thấy việc pháp luật quy định như vậy là hoàn toàn phù hợp với thực tế phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của công ty, theo đó nếu công ty cổ phần là một doanh nghiệp lớn, việc điều hành quản lý hoạt động và kiểm soát quá trình thực hiện của công ty là vô cùng cần thiết, do đó nếu trong trường hợp số thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát còn lại ít hơn số thành viên theo quy định của pháp luật;haytheo yêu cầu của Ban kiểm soát hoặc theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 114 của Luật này khi: Hội đồng quản trị vi phạm nghiêm trọng quyền của cổ đông, nghĩa vụ của người quản lý hoặc ra quyết định vượt quá thẩm quyền được giao; Nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị đã vượt quá 06 tháng mà Hội đồng quản trị mới chưa được bầu thay thế hoặc trường hợp khác theo quy định của Điều lệ công ty mà Hội đồng quản trị không tiến hành triệu tập cuộc họp bất thường để giải quyết các vấn đề trên sẽ có thể gây ra những thiệt hại rất lớn cho công ty khi hoạt động điều hành không được thực hiện đúng hay các quyết định đã được thông qua không đúng thẩm quyền.

Thứ hai: Tranh chấp phát sinh khi cổ đông hoặc công ty yêu cầu người quản lý công ty chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do không cung cấp hoặc cung cấp không kịp thời, không chính xác thông tin sổ đăng ký cổ đông theo yêu cầu:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 137 LDN 2014 quy định thì: “ Cổ đông có quyền kiểm tra, tra cứu, trích lục và sao danh sách cổ đông có quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông; yêu cầu sửa đổi những thông tin sai lệch hoặc bổ sung những thông tin cần thiết về mình trong danh sách cổ đông có quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông. Người quản lý công ty phải cung cấp kịp thời thông tin số đăng ký cổ đông, sửa đổi, bổ sung thông tin sai lệch theo yêu cầu của cổ đông; đồng thời chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do không cung cấp hoặc cung cấp không kịp thời, không chính xác thông tin sổ đăng ký cổ đông theo yêu cầu. Với quy định này, trong trường hợp nếu người quản lý công ty không kịp thời cung cấp, bổ sung hay sửa đổi những sai phạm liên quan đến việc lập danh sách cổ đông dự họp, xác định số phiếu biểu quyết và tỉ lệ cổ phần của cổ đông không đúng làm ảnh hưởng đến quyền tham dự cuộc họp ĐHĐCĐ của cổ đông hoặc số phiếu biểu quyết của họ theo tỉ lệ số cổ phần mà họ có. Đây có thể là một trong các căn cứ để cuộc họp ĐHĐCĐ được coi là không hợp lệ và các cổ đông theo quy định tại Điều 147 LDN có quyền yêu cầu tòa án hủy bỏ nghị quyết đã được thông qua tại kí họp ĐHĐCĐ đó. Nhận thấy nếu kì họp ĐHĐCĐ đã được tổ chức và nghị quyết đã được thông qua và thực hiện trên thực tế tuy nhiên do vi phạm về vấn đề này mà kì họp không được coi là hợp lệ và nghị quyết đã thông qua và được thực hiện mà bị hủy thì điều này sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của công ty, gây thiệt hại cho các cổ đông công ty do đó việc yêu cầu họ sẽ phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hai phát sinh do vi phạm nghĩa vụ nếu công ty hoặc cổ đông có yêu cầu là một quy định hoàn toàn phù hợp, tuy nhiên việc chứng minh các vấn đề liên quan đến thiệt hại phát sinh và việc xác định những người có nghĩa vụ bồi thường thiệt khoản thiệt hại này trên thực tế là rất khó khăn ngoài ra các đương sự khi thực hiện nghĩa vụ chứng minh của họ tại tòa án là một vấn đề vô cùng phức tạp.

Thứ ba: tranh chấp của cổ đông công ty yêu cầu đòi hủy nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông do có những sai phạm trong trình tự, thủ tục triệu tập họp và ra quyết định của Đại hội đồng cổ đông do không thực hiện đúng theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty, theo đó:

Tại Điều 147 LDN 2014 quy định thì trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được biên bản họp Đại hội đồng cổ đông hoặc biên bản kết quả kiểm phiếu lấy ý kiến Đại hội đồng cổ đông, cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công tycó quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài xem xét, hủy bỏ nghị quyết hoặc một phần nội dung nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông trong các trường hợp sau đây: 1. Trình tự và thủ tục triệu tập họp và ra quyết định của Đại hội đồng cổ đông không thực hiện đúng theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 148 của Luật này; 2. Nội dung nghị quyết vi phạm pháp luật hoặc Điều lệ công ty.

Nhận thấy quy định trên của LDN vẫn còn nhiều hạn chế và vướng mắc nhất định như vướng mắcvề căn cứ để yêu cầu hủy bỏ quyết định của ĐHĐCĐ. Theo đó, LDN chưa quy định rõ mức độ sai trái, hoặc mức độ vi phạm trình tự, thủ tục họp và ra quyết định so với các quy định về trình tự thủ tục triệu tập như thế nào thì nghị quyết đó sẽ bị hủy bỏ và hủy bỏ toàn bộ hay chỉ một phần liên quan đến một trong các vấn đề đã được Đại hội thông qua do vấn đề đó vi phạm quy định .

Trong thực tiễn, Tòa án nhân dân (TAND) đã hủy nhiều quyết định của ĐHĐCĐ do CTCP không thực hiện đầy đủ, triệt để các quy định về triệu tập và thể thức họp ĐHĐCĐ. Theo một nghiên cứu gần đây thì 23 trong số 24 vụ TAND huỷ quyết định của ĐHĐCĐ có lý do là thủ tục, trình tự triệu tập và tiến hành cuộc họp không đúng qui định ([1]). Chẳng hạn, trong vụ án về yêu cầu hủy quyết định của ĐHĐCĐ tại CTCP Vận tảiA , TAND TP. Hà Nội đã hủy quyết định của ĐHĐCĐ vì cho rằng, trình tự họp và biểu quyết tại đại hội là sai Luật DN và Điều lệ công ty, trong đó có những vi phạm như: không phát thẻ biểu quyết và thu thẻ theo quy định tại khoản 5 Điều 142 LDN 2014. Hay như tòa án ra quyết định  hủy quyết định của ĐHĐCĐ CTCP do không gửi tài liệu cuộc họp cho cổ đông dự họp kèm theo giấy mời họp theo quy định tại khoản 4 Điều 139 LDN 2014 và cũng không gửi thông tin này lên trang thông tin điện tử của công ty. Nhận thấy với những ví dụ thực tế về việc huỷ bỏ quyết định của ĐHĐCĐ trên thì có những lý do có hợp lý, song cũng có những lý do chưa thực sự phù hợp với thực tiễn và đặc điểm của các CTCP bởi chỉ vì vi phạm những thủ tục nhỏ nhặt như việc phát thẻ và thu thẻ kiểm phiếu không đúng quy định mà hủy bỏ nghị quyết đã được thông qua của CTCP thì sẽ ảnh thưởng và gây thiệt hại rất lớn cho công ty khi chi phí để tổ chức một cuộc họp cổ đông hợp lệ khác là rất lớn và mất thời gian còn chưa kể đến trường hợp các vấn đề trong nghị quyết đó đã được thực thi và hậu quả do quyết định này vô hiệu sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của công ty.Chính vì vậy, nhận thấy để hạn chế việc TAND hủy bỏ quyết định của ĐHĐCĐ vì những vi phạm nhỏ nhặt, đơn giản mà rõ ràng không nghiêm trọng, không ảnh huởng đến kết quả cuộc họp ĐHĐCĐ cũng như lợi ích của công ty và các cổ đông thì nên quy định chỉ hủy các quyết định có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục, trình tự mà pháp luật và điều lệ quy định. Tuy nhiên, thế nào là vi phạm nghiêm trọng sẽ cần có hướng dẫn thêm của TAND tối cao. Hoặc cần quy định theo hướng không quy định quá chi tiết về thủ tục triệu tập họp và thể thức họp ĐHĐCĐ vì thực tiễn số lượng và cơ cấu cổ đông của các CTCP rất khác nhau, sự quy định cứng nhắc sẽ kém linh hoạt và hiệu quả, không phù hợp đối với các CTCP đại chúng, nhất là các công ty niêm yết.

Bên cạnh đó quy định của LDN 2014 về thẩm quyền giải quyết những vấn đề tranh chấp liên quan đến yêu cầu hủy quyết định của ĐHĐCĐ cũng còn tồn tại vướng mắc. Theo đó, Luật DN 2014 quy định việc cổ đông có quyền yêu cầu Tòa án hay Trọng tài xem xét, hủy bỏ quyết định của ĐHĐCĐ. Như vậy Cơ quan giải quyết tranh chấp có thể là một Tổ chức trọng tài nếu: (i) Điều lệ Công ty quy định rõ cơ quan tài phán là một tổ chức trọng tài; hoặc (ii) Điều lệ Công ty mặc dù không quy định cơ quan trọng tài nhưng trong hoặc sau khi phát sinh tranh chấp các bên có liên quan thống nhất chọn một tổ chức trọng tài là cơ quan giải quyết tranh chấp. Cơ quan giải quyết tranh chấp có thể là Tòa án có thẩm quyền nếu: (i) Điều lệ Công ty không quy định hoặc quy định không rõ ràng về cơ quan tài phán để giải quyết tranh chấp trong trường hợp này và sau khi tranh chấp phát sinh các bên cũng không thống nhất để lựa chọn một Tổ chức trọng tài cụ thể để giải quyết tranh chấp; hoặc (ii) Các bên có thỏa thuận về trọng tài nhưng thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu theo quy định của pháp luật về trọng tài.

Tuy nhiên Luật Trọng tài thương mại 2010 (có hiệu lực từ năm 2011) thì Trọng tài không thể thụ lý giải quyết yêu cầu này, trừ phi chúng ta quan niệm yêu cầu hủy bỏ quyết định của ĐHĐCĐ là tranh chấp thương mại, xác định được các bên tranh chấp cụ thể và có thỏa thuận trọng tài. Nếu căn cứ theo pháp luật hiện hành thì quy định cho Trọng tài giải quyết yêu cầu huỷ bỏ quyết định của ĐHĐCĐ là bất hợp lý, không thuyết phục và khó thực thi.Bởi nếu quy định yêu cầu hủy bỏ quyết định của ĐHĐCĐ có thể được giải quyết tại một trung tâm trọng tài thì trước tiên phải coi đó là tranh chấp kinh doanh thương mại.Tuy nhiên đối với việc xác định yêu cầu hủy quyết định của ĐHĐCĐ có phải là tranh chấp kinh doanh, thương mại hay không vẫn còn là một chủ đề tranh cãi trong các thẩm phán của TAND. Theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, nếu quan niệm yêu cầu hủy quyết định của ĐHĐCĐ là một tranh chấp kinh doanh, thương mại (theo Điều 29) thì Tòa án sẽ thụ lý giải quyết nó như một vụ án, thủ tục tố tụng này khác với quan niệm yêu cầu hủy quyết định của ĐHĐCĐ chỉ là yêu cầu về kinh doanh, thương mại (theo Điều 30) và giải quyết theo thủ tục tố tụng đối với việc dân sự. Với giải quyết khác nhau trong đường lối xét xử, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của các cổ đông bởi vì họ phải chờ đợi quá lâu, phải qua nhiều lần xét xử mới có phán quyết cuối cùng của Tòa án.Hơn nữa, các công ty và cổ đông cũng không biết chắc chắn về kết quả giải quyết vụ việc sẽ như thế nào và lúng túng trong việc khởi kiện. Về vấn đề yêu cầu hủy quyết định của ĐHĐCĐ, Tòa kinh tế TAND tối cao cho rằng đây là loại việc dân sự chứ không có tranh chấp, không phải là vụ án kinh doanh, thương mại. Tòa kinh tế TAND tối cao cũng yêu cầu Hội đồng thẩm phán TAND tối cao có ý kiến hướng dẫn, chỉ đạo về vấn đề này để đảm bảo việc áp dụng pháp luật thống nhất trong phạm vi toàn quốc, nhưng cho đến nay, TAND tối cao vẫn chưa có văn bản chính thức về vấn đề này.

Nhận thấy với quy định của pháp luật hiện hành thì việc triệu tập một cuộc họp đại hội đồng cổ đông hợp lệ mặc dù đã được quy định thông thoáng hơn so với những quy định trước đây trong luật doanh nghiệp 2005 tuy nhiên các thủ tục để tiến hành một cuộc họp đại hội đồng cổ đông hợp lệ cũng vô cùng khó khăn nhất là đối với các công ty cổ phần lớn, số lượng cổ đông của công ty lên đến hàng nghìn cổ đông. Do vậy việc xảy ra các vấn đề tranh chấp pháp sinh liên quan từ kì họp đại hội đồng cô đông xảy ra khá lớn và thủ tục cũng như cách thức tiến hành giải quyết các vụ tranh chấp đó hiện nay cũng vô cùng phức tạp. Vì vậy, để có thể hạn chế tới mức thấp nhất các tranh chấp có thể phát sinh từ kì họp ĐHĐCĐ các công ty cổ phần nên quy định một cách cụ thể cách thức tiến hành kì họp đại hội đồng cổ đông theo hướng đơn giản hóa thủ tục tiến hành trong phạm vi pháp luật cho phép trong Điều lệ công ty.

 

 

 

 

 

 

 

[1] Lê Thị Hiền, Tranh chấp nội bộ công ty theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ luật học, TP.HCM, 2010, tr. 62.

 

Sản Phẩm Liên Quan

Cấp lại giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ

Cấp lại giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồTổ chức đề nghị cấp lại giấy phép hoạt động đo đạc

CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ ĐO ĐẠC VÀ BẢN ĐỒ

CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ ĐO ĐẠC VÀ BẢN ĐỒDanh mục hành nghề đo đạc và bản đồDanh mục hành nghề đo

THÀNH LẬP CÔNG TY

Hỗ trợ THÀNH LẬP CÔNG TY với mức phí từ 100.000đThành Lập Công Ty là bước làm đầu tiên để hiện

Thành lập doanh nghiệp tại Bắc Ninh, Bắc Giang

Thành lập doanh nghiệp tại Bắc Ninh, Bắc GiangChúng tôi hướng đến cung cấp dịch vụ với mức phí

Thành lập doanh nghiệp tại Bà Rịa – Vũng Tầu

Thành lập doanh nghiệp tại Bà Rịa - Vũng TầuChúng tôi hướng đến cung cấp dịch vụ với mức phí hợp

Thành lập doanh nghiệp tại Thái Bình

Thành lập doanh nghiệp tại Thái BìnhChúng tôi hướng đến cung cấp dịch vụ với mức phí hợp lý cùng