Những điểm mới cần lưu ý trong quy định về đại diện của doanh nghiệp theo quy định của Bộ Luật Dân sự 2015.

             Đại diện là một phạm trù được nhắc đến nhiều và đóng vai trò rất quan trọng trong một doanh nghiệp. Doanh nhiệp để có thể tham gia một quan hệ pháp luật phải thông qua một người cụ thể được pháp luật quy định có quyền đại diện. Người đại diện của doanh nghiệp khi nhân danh doanh nghiệp tham gia vào các quan hệ pháp luật có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền.
               Nhận thấy khi tham gia một giao dịch nhất định với một bên là một pháp nhân – doanh nghiệp thì tư cách chủ thể tham gia kí kết giao dịch đó là một vấn đề vô cùng quan trọng bởi nó ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng hay của quan hệ mà các bên đã kí kết và tham gia. Chính vì vậy việc nắm bắt kịp thời các quy định của pháp luật về người đại điện cho doanh nghiệp là rất cần thiết, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà Luật Doanh nghiệp 2014 đã được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2015 và Bộ luật dân sự 2015 đã được Quốc hội thông qua và sẽ có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 2017 tới đây.
Trước đây trong Luật Doanh nghiệp 2005 quy định công ty Trách nhiệm hữu hạn và công ty Cổ phần chỉ có 1 người đại diện theo pháp luật của công ty ( Điều 46, Điều 67 đối với công ty TNHH và Điều 95 đối với công ty Cổ phần). Trong khi đó, Luật Doanh nghiệp 2014 quy định: Công ty TNHH và công ty Cổ phần “có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp”. Quy định mới này góp phần đảm bảo quyền tự do kinh doanh cho doanh nghiệp, theo đó doanh nghiệp có thể có một hoặc nhiều đại diện theo pháp luật, người theo đó điều lệ công ty sẽ quy định cụ thể về số lượng, chức danh quản lý, quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.
Để có thể đảm bảo sự phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 Bộ luật dân sự 2015 mới đây đã có nhiều đổi mới trong quy định về người đại diện của pháp nhân – doanh nghiệp, theo đó:
             Thứ nhất, cho phép pháp nhân có thể là người đại diện cho pháp nhân khác.
Theo quy định tại Điều 134 BLDS 2015 quy định: “1. Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.
Quy định này của BLDS 2015 có điểm mới so với quy định trước đó tại Điều 139 LBSD 2005 : “1. Đại diện là việc một người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện.” Với quy định trên của BLDS 2005 đã xác định người được đại diện chỉ có thể là cá nhân mà không thể là một pháp nhân, theo đó cá nhân chỉ có thể ủy quyền cho cá nhân và pháp nhân chỉ có thể ủy quyền cho cá nhân mà không cho phép pháp nhân ủy quyền cho một pháp nhân khác đại diện mình tham gia một quan hệ pháp luật. Tuy nhiên với quy định mới của BLDS 2015 thì “ đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện)…” theo đó không chỉ có cá nhân mà pháp nhân cũng có thể là người đại cho cá nhân hay một pháp nhân. Với quy định mới này thì một pháp nhân hoàn toàn có thể ủy quyền cho một pháp nhân khác nhân danh mình tham gia vào một quan hệ pháp luật nhất định mà hợp đồng ủy quyền đó là hợp pháp.
              Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 134 BLDS 2015 đã quy định: “ Cá nhân, pháp nhân có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện” với quy định này BLDS 2015 đã bãi bỏ cụm từ “chủ thể khác” trong BLDS 2005, do đó việc xác lập và thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện chỉ có cá nhân và pháp nhân mới được xác lập giao dịch thông qua người đại diện còn các chủ thế khác theo quy định của BLDS thì không.
         Để đảm bảo phù hợp với quy định về người đại diện có thể là cá nhân hay pháp nhân thì tại Điều 141 BLDS 2015 cũng quy định việc: Một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc pháp nhân khác nhau nhưng không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện GDDS với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Người đại diện phải thông báo cho bên giao dịch biết về phạm vi đại diện của mình.
            Thứ hai, quy định cho phép pháp nhân – doanh nghiệp có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật.
              Tại BLDS 2015 đã tách riêng quy định về đại diện theo pháp luật của cá nhân và đại diện theo pháp luật của pháp nhân. Đối với đại diện theo pháp nhân, tại Điều 137 quy định: “1. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bao gồm:
a) Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ;
b) Người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật;
c) Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án.
2. Một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật và mỗi người đại diện có quyền đại diện cho pháp nhân theo quy định tại Điều 140 và Điều 141 của Bộ luật này.
            Theo đó, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân đã được quy định một cách cụ thể và rõ ràng hơn trong từng trường hợp so với quy định trước đây của BLDS 2005. Ngoài ra một điểm mới vô cùng quan trọng trong quy định này phải kể đến việc: BLDS 2015 đã quy định : “2. Một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật và mỗi người đại diện có quyền đại diện cho pháp nhân theo quy định tại Điều 140 và Điều 141 của Bộ luật này.
             Việc quy định cho phép một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật của BLDS 2015 đã đảm bảo sự tương thích với quy định của LDN 2014 trong việc quy định Công ty TNHH và công ty Cổ phần “có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật.” Sự tương thích giữa quy định của luật chung và luật chuyên ngành trong trường hợp này đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể thực hiện quyền của mình một cách thuận lợi hơn. Điều này cho phép các đại diện theo pháp luật của pháp nhân khi tham gia vào một giao dịch dân sự sẽ dễ dàng hơn khi xác định quyền đại diện và phạm vi đại diện của mình, từ đó làm cho hiệu lực của các giao dịch dân sự được kí kết đối với những đối tượng này cũng sẽ được đảm bảo, quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ được đã giao kết với các chủ thể này cũng được bảo vệ tốt hơn.
             Thứ ba, BLDS 2015 đã quy định cụ thể về hậu quả pháp lý của việc đại diện và thời hạn đại diện so với quy định trước đây trong BLDS 2005.
            Theo như quy định tại Điều 139 BLDS 2015 đã quy định hậu quả pháp lý của hành vi đại diện, theo đó: “1. Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện với người thứ ba phù hợp với phạm vi đại diện làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện.
2. Người đại diện có quyền xác lập, thực hiện hành vi cần thiết để đạt được mục đích của việc đại diện.
3. Trường hợp người đại diện biết hoặc phải biết việc xác lập hành vi đại diện là do bị nhầm lẫn, bị lừa dối, bị đe dọa, cưỡng ép mà vẫn xác lập, thực hiện hành vi thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người được đại diện biết hoặc phải biết về việc này mà không phản đối.” Việc quy định cụ thể tại một điều luật nhất định trong BLDS 2015 góp phần đảm bảo cho các chủ thể thực hiện quy định này nắm bắt áp dụng quy định một cách dễ dàng hơn.
           Bên cạnh đó BLDS 2015 đã bổ sung thêm quy định về thời hạn đại diện mà trước đây trong BLDS 2005 không quy định, tại Điều tại Điều 140, theo đó: “ 1. Thời hạn đại diện được xác định theo văn bản ủy quyền, theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật.
2. Trường hợp không xác định được thời hạn đại diện theo quy định tại khoản 1 Điều này thì thời hạn đại diện được xác định như sau:
a) Nếu quyền đại diện được xác định theo giao dịch dân sự cụ thể thì thời hạn đại diện được tính đến thời điểm chấm dứt giao dịch dân sự đó;
b) Nếu quyền đại diện không được xác định với giao dịch dân sự cụ thể thì thời hạn đại diện là 01 năm, kể từ thời điểm phát sinh quyền đại diện.” Ngoài quy định trên thì BLDS 2015 còn bổ sung một số trường hợp đại diện theo ủy quyền chấm dứt tại khoản 3 Điều 140.
              Với quy định này, các bên khi xác lập hoặc tham gia giao dịch dân sự đối với người đại diện sẽ dễ dàng xác định được tư cách đại diện của bên kia sẽ chấm dứt khi nào và xác định được cụ thể họ còn thời hạn là người đại diện cho bên kia để tiến hành thực hiện giao dịch với mình không. Ngoài ra quy định này còn giúp chính người đại diện biết rõ được thời hạn đại diện của mình khi tham gia đại diện cho bên ủy quyền hay bên được đại diện kí kết và thực hiện các giao dịch.
         Thứ tư , bổ sung thêm quy định về hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện thực hiện và do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện.
              Bổ sung thêm quy định về hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện tại Điều 142 BLDS 2015: “1. Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ một trong các trường hợp sau đây: …c) Người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không có quyền đại diện.” và quy định: “4. Trường hợp người không có quyền đại diện và người đã giao dịch cố ý xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà gây thiệt hại cho người được đại diện thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại.”
            Bổ sung thêm điều khoản loại trừ trong trường hợp GDDS do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ các trường hợp sau: “1… c. Người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện GDDS với mình vượt quá phạm vi đại diện. ….2. Trường hợp GDDS do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện thì người đại diện phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình về phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện, trừ trường hợp người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc vượt quá phạm vi đại diện mà vẫn giao dịch.” ( điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 143)
               Thứ 5 một số lưu ý đối với trường hợp đại diện theo ủy quyền
               Đối với trường hợp đại diện theo ủy quyền giữa pháp nhân với pháp nhân để tham gia tố tụng khác với đại diện theo ủy quyền của pháp nhân với pháp nhân khi tham gia giao dịch, theo đó:
           – Đối với đại diện theo ủy quyền để tham gia tổ tụng
Nếu một công ty A không có chức năng tham gia tố tụng nhưng lại là một bên của quan hệ tranh chấp ủy quyền cho một công ty B đại diện cho mình tham tố tụng tại tòa án thì công ty B hoàn toàn được thay mặt bên A tham gia vào quan hệ tố tụng tại tòa.
           – Đối với ủy quyền khi tham gia giao dịch
Nếu công ty A không phải là một công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng hoặc không phải là công ty đáp ứng đủ điều kiện để kinh doanh và sản xuất thuốc thì công ty A không thể ủy quyền cho công ty B thay mình tham gia ki kết các hợp đồng trong lĩnh vực xây dựng hoặc hợp đồng kinh doanh và sản xuất thuốc.
            Ngoài ra cần chú ý đối với việc ủy quyền viết đơn khởi kiện, theo đó: nếu công ty A ủy quyền cho công ty B đại diện cho mình khởi kiện và tham gia tố tụng thì trong trường hợp này đơn khởi kiện đó sẽ đóng dấu và kí tên của bên nào?
+ Nếu trong văn bản ủy quyền không xác định cho phép bên ủy quyền được quyền thay mặt A kí tên và đóng dấu trong đơn khởi kiện thì trong đơn khởi kiện buộc phải có chữ kí và đóng dấu của bên ủy quyền là A
+ Chỉ được phép kí tên và đóng dấu của pháp nhân B khi hợp đồng ủy quyền cho phép bên B có quyền thay mặt mình kí tên và đóng dấu vào đơn khởi kiện.

Sản Phẩm Liên Quan

Cấp lại giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ

Cấp lại giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồTổ chức đề nghị cấp lại giấy phép hoạt động đo đạc

CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ ĐO ĐẠC VÀ BẢN ĐỒ

CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ ĐO ĐẠC VÀ BẢN ĐỒDanh mục hành nghề đo đạc và bản đồDanh mục hành nghề đo

THÀNH LẬP CÔNG TY

Hỗ trợ THÀNH LẬP CÔNG TY với mức phí từ 100.000đThành Lập Công Ty là bước làm đầu tiên để hiện

Thành lập doanh nghiệp tại Bắc Ninh, Bắc Giang

Thành lập doanh nghiệp tại Bắc Ninh, Bắc GiangChúng tôi hướng đến cung cấp dịch vụ với mức phí

Thành lập doanh nghiệp tại Bà Rịa – Vũng Tầu

Thành lập doanh nghiệp tại Bà Rịa - Vũng TầuChúng tôi hướng đến cung cấp dịch vụ với mức phí hợp

Thành lập doanh nghiệp tại Thái Bình

Thành lập doanh nghiệp tại Thái BìnhChúng tôi hướng đến cung cấp dịch vụ với mức phí hợp lý cùng